Công dụng thuốc Antinat

Công dụng thuốc Antinat

Etomidate là thuốc gây mê đường tĩnh mạch cho tác dụng khởi mê nhanh và êm dịu, sau đó bệnh nhân hồi tỉnh nhanh. Đây là hoạt chất có khả năng nhanh chóng đi qua hàng rào máu não. Sau khi tiêm thuốc Antinat 10 -20 giây đã có tác dụng và duy trì tác dụng 20 – 30 phút với 1 liều duy nhất.

1. Thuốc Antinat là thuốc gì?

Thuốc Antinat là thuốc thuốc nhóm thuốc gây tê, mê; được bào chế dưới dạng dung dịch tiêm, thể tích mỗi ống là 10ml. Thành phần chính của thuốc Antinat là Etomidate, nồng độ 20 mg/10 ml. Thuốc Antinat được sản xuất bởi Công ty Cổ phần Dược phẩm An Thiên – VIỆT NAM, lưu hành trên thị trường với số đăng ký VD-27795-17.

Etomidate là hoạt chất thuốc ngủ không barbiturat, hoạt chất này không có tác dụng giảm đau, thời gian tác dụng điều trị rất ngắn. Sau khi tiêm tĩnh mạch với liều 0,3 mg/kg thể trọng, tác dụng gây mê của thuốc duy trì được khoảng 5 phút. Vì tác dụng ngắn nên hoạt chất này chủ yếu dùng khởi mê, sau đó cần phải phối hợp thêm với thuốc mê hô hấp khác để duy trì hiệu quả gây mê.

Ưu điểm của hoạt chất etomidate là ổn định hệ hô hấp, tim mạch, duy trì được lưu lượng tim và áp suất tâm trương cho bệnh nhân nên thuốc thường dùng cho bệnh nhân bị suy giảm chức năng cung cấp máu và oxy cho cơ tim.

Trong cơ thể Etomidate chuyển hoá qua gan và thải trừ chủ yếu qua nước tiểu ở dạng đã chuyển hoá, một phần nhỏ Etomidate ở dạng nguyên vẹn, thời gian bán thải khoảng 9 giờ.

2. Chỉ định của thuốc Antinat

Thuốc Antinat được chỉ định sử dụng để dẫn mê và gây mê ngắn hạn.

3. Liều lượng và cách dùng của thuốc Antinat

Liều dùng của thuốc Antinat được điều chỉnh theo đáp ứng của từng cơ thể bệnh nhân và tác dụng lâm sàng như sau:

  • Về nguyên tắc, liều thuốc Antinat có tác dụng gây ngủ nằm trong khoảng 0,15-0,3 mg etomidate/kg thể trọng, tương ứng với liều 0,075-0,15 ml Etomidate/kg thể trọng của bệnh nhân.
  • Trẻ em dưới 15 tuổi và người lớn tuổi dùng liều thuốc Antinat duy nhất 0,15-0,2 mg etomidate, tương ứng với 0,075-0,1 ml Etomidate/kg thể trọng của người bệnh. Đối với những bệnh nhân thuộc nhóm tuổi này, liều thuốc Antinat chính xác cũng phải được điều chỉnh theo tác dụng lâm sàng thu được trong quá trình gây mê.
  • Đối với những bệnh nhân mắc bệnh xơ gan và những người được chuẩn mê bằng các thuốc thuộc nhóm an thần, nhóm opiates hoặc các nhóm giảm đau thì liều dùng thuốc Antinat cần phải giảm đi.
  • Trong trường hợp gây mê đặc biệt nhằm mục đích chấm dứt tình trạng động kinh liên tục hoặc chấm dứt các cơn động kinh cơn liên tiếp, thuốc Antinat nên được tiêm nhanh, nghĩa là tiêm thuốc Antinat trong vòng 10 giây, đủ một liều etomidate (cụ thể là 0,3 mg/kg thể trọng, tương ứng với 0,15 ml Etomidate/kg thể trọng bệnh nhân). Có thể tiêm nhắc lại liều thuốc Antinat này vài lần, nếu cần.

Cách dùng và đường dùng của thuốc Antinat:

  • Hoạt chất Etomidate nhất thiết phải được sử dụng bằng đường tiêm tĩnh mạch, dùng nguyên tắc tiêm thật chậm (một liều tiêm thuốc Antinat thường kéo dài khoảng 30 giây), và có thể tiêm thuốc ngắt quãng nếu cần.
  • Không được tiêm thuốc Antinat vào động mạch, vì hoạt chất Etomidate có nguy cơ gây ra hoại tử nếu tiêm vào động mạch, trường hợp tiêm thuốc Antinat ra ngoài tĩnh mạch bệnh nhân sẽ rất đau.
  • Trước khi sử dụng thuốc chứa hoạt chất Etomidate nên có sự chuẩn mê thích hợp để tránh xảy ra chứng giật rung cơ. Nên sử dụng các thuốc thuộc nhóm benzodiazepin như diazepam bằng đường tiêm bắp trước khoảng 1 giờ hoặc tiêm tĩnh mạch 10 phút trước khi tiêm thuốc Etomidate.
  • Đối với những bệnh nhân có biểu hiện động kinh hoặc bệnh nhân có xu hướng bị co giật tăng lên, lúc này nên chỉ định tiêm nhanh Etomidate trong vòng vài giây để tránh sự khuếch tán quá chậm của hoạt chất etomidate vào não. Etomidate có sinh khả dụng tốt và tốc độ phân bố trong não rất nhanh, điều này sẽ giúp bệnh nhân ngăn ngừa được những cơn co giật.
  • Hoạt chất Etomidate trong thuốc Antinat không chứa các chất bảo quản chống vi khuẩn nấm mốc, do đó sau khi mở ống tiêm cần phải rút ngay nhũ dịch vào bơm tiêm trong điều kiện vô trùng và tiêm ngay, nhũ dịch dầu của thuốc Antinat là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn nấm mốc phát triển. Phần thuốc Antinat không dùng đến cần phải hủy bỏ.
  • Lắc kỹ ống tiêm thuốc Antinat trước khi dùng để đảm bảo cho hoạt chất được phân bố đều.

4. Chống chỉ định của thuốc Antinat

Không được chỉ định thuốc Antinat cho những bệnh nhân đã biết về tình trạng mẫn cảm với etomidate hoặc nhũ dịch dầu.

  • Trên động vật thí nghiệm, hoạt chất Etomidate đã được chứng minh là có tiềm năng tạo porphyrin do đó không được dùng thuốc Antinat cho những bệnh nhân bị rối loạn chức năng sinh tổng hợp nhân Hem do di truyền, trừ khi việc chỉ định dùng thuốc Antinat đã được xác định rõ sau khi cân nhắc kỹ lưỡng giữa nguy cơ với lợi ích.
  • Đối với trẻ sơ sinh và trẻ dưới 6 tháng tuổi, không được điều trị bằng thuốc Antinat trừ khi có chỉ định bắt buộc và cần được điều trị nội trú.

5. Thận trọng khi dùng thuốc Antinat

Thận trọng khi dùng thuốc Antinat khi dùng thuốc trong trường hợp sau đây:

  • Sau khi dùng kéo dài liên tục thuốc Antinat có nguy cơ gây suy vỏ thượng thận thoáng qua.
  • Chỉ có bác sĩ có kỹ năng thành thạo kỹ thuật đặt ống nội khí quản và có sẵn thiết bị hô hấp nhân tạo mới được phép sử dụng thuốc Antinat.
  • Etomidate không có tác dụng giảm đau do đó nếu dùng thuốc Antinat trong gây mê thời gian ngắn, cần phải dùng thêm một thuốc giảm đau mạnh như fentanyl. Fentanyl cần phải cho trước hoặc cùng lúc với thuốc Antinat.
  • Ngay cả khi thuốc Antinat đã được sử dụng như đã hướng dẫn, bệnh nhân dùng thuốc này sẽ không thể lái xe hay vận hành máy trong ít nhất là 24 giờ sau khi dùng thuốc.
  • Mức độ an toàn khi sử dụng thuốc Antinat trong thời gian thai nghén của mẹ chưa được xác minh, do đó thuốc Antinat chỉ nên sử dụng cho phụ nữ có thai nếu không còn lựa chọn nào khác.
  • Etomidate có khả năng được bài tiết theo sữa mẹ, nếu bệnh nhân cần phải dùng thuốc Antinat trong thời gian cho con bú thì phải tạm ngừng cho bú và không được cho bú lại trước 24 giờ sau lần cuối cùng dùng thuốc, Sữa mẹ tiết ra trong thời gian dùng thuốc Antinat này phải vắt bỏ đi.

6. Tương tác thuốc của thuốc Antinat

  • Tác dụng gây ngủ của thuốc Antinat sẽ được tăng cường bởi các thuốc thuộc nhóm an thần, thuốc nhóm opiates, thuốc giảm đau và rượu.
  • Không được trộn thuốc Antinat với các thuốc tiêm khác nếu không kiểm tra trước về tính tương hợp của các loại thuốc.
  • Hơn nữa, Etomidate không được cho đồng thời với các thuốc tiêm khác qua cùng một đường truyền. Do đó đối với các thuốc cho đồng thời, như thuốc giảm đau phải được cho lần lượt qua cùng một đường truyền hoặc qua một canun tĩnh mạch riêng.
  • Có thể tiêm thuốc Antinat vào bộ dây truyền dung dịch đẳng trương Natri Clorid nhưng cần phải tạm ngừng truyền.

7. Tác dụng phụ của thuốc Antinat

Hoạt chất Etomidate ức chế sinh tổng hợp các steroid của vỏ thượng thận, do đó sau khi tiêm một liều duy nhất thuốc Antinat, đáp ứng của vỏ thượng thận đối với các tác nhân kích thích sẽ bị giảm rõ rệt trong khoảng từ 4-6 giờ.

Sau khi tiêm một liều duy nhất thuốc Antinat trên những bệnh nhân không được chuẩn mê, nghiên cứu thường quan sát thấy có tình trạng các cơ cử động ngoài ý muốn (chứng giật rung cơ). Điều này tương ứng với sự thoát khỏi sự ức chế của các kích thích não trung gian, cảm giác giật rung cơ trong giấc ngủ sinh lý. Có thể tránh được các hiện tượng trên bằng cách cho dùng các thuốc chuẩn mê thuộc nhóm opiates hoặc benzodiazepin trước khi dùng etomidate.

Thỉnh thoảng, sau khi dùng thuốc Antinat, có thể xảy ra hiện tượng buồn nôn và ói mửa, tuy nhiên điều đó chủ yếu là do các thuốc thuộc nhóm opiates dùng đồng thời hoặc được dùng để chuẩn mê gây ra, hơn nữa có thể bị ho, nấc và rét run.

Hiếm khi sau khi dùng thuốc Antinat gây giải phóng ra histamin. Cho đến nay mới chỉ gặp 3 ca xảy ra tác dụng phụ nghiêm trọng với thuốc Antinat. Tuy nhiên, etomidate vẫn là thuốc xem chọn đầu tiên đối với những bệnh nhân có tiền sử dị ứng.

8. Quá liều thuốc Antinat

  • Đặc biệt sau khi dùng thuốc Antinat liều cao và nếu phối hợp với các thuốc an thần kinh trung ương, đôi khi có thể xảy ra hiện tượng ngưng thở thoáng qua. Trong trường hợp bị quá liều thuốc Antinat, đặc biệt nếu etomidate lại được phối hợp với các thuốc gây mê bằng đường hô hấp thì thời gian ngủ của bệnh nhân có thể bị kéo dài, tăng nguy cơ xảy ra ngừng thở trong thời gian ngắn.
  • Khi dùng thuốc Antinat, nên có sẵn tất cả các thiết bị máy móc và thuốc men cần đến trong thủ tục gây mê.

Thuốc Antinat là thuốc thuốc nhóm thuốc gây tê, mê; được bào chế dưới dạng dung dịch tiêm, thể tích mỗi ống là 10ml. Thành phần chính của thuốc Antinat là Etomidate, nồng độ 20 mg/10 ml. Để đảm bảo hiệu quả sử dụng và tránh được tác dụng phụ không mong muốn, người bệnh cần tuân theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ, nhân viên y tế.

Theo dõi website Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec để nắm thêm nhiều thông tin sức khỏe, dinh dưỡng, làm đẹp để bảo vệ sức khỏe cho bản thân và những người thân yêu trong gia đình.

Close
Social profiles